Monday, November 21, 2022

Câu chuyện về Vô Thường, Khổ Đau và Vô Ngã

 Câu chuyện về Vô Thường, Khổ Đau và Vô Ngã

Minh Hạnh

Buổi tối sau khi uống trà, bà Hai đến sofa ngồi đọc sách. Trong phòng đứa cháu nội, Ashley vừa được 4 tuổi đang ngồi chơi con búp bê của nó dưới sàn nhà. Em trai nó, bé  Aiden vừa được 2 tháng tuổi nằm trên tấm chăn mỏng gần đó. 

Ashley chợt thấy con nhện con đang bò gần tấm chăn em trai đang nằm, nó  gọi mẹ.

- Mama, con thấy có một con baby nhện  đang bò gần em Aiden, nó đang đi kiếm mẹ nó.

Người con dâu đang đứng kế bếp, vội chạy lại:

- Đâu, con nhện đâu?

Ashley chỉ con nhện và nói:

- Nó là baby, nó đi kiếm mẹ nhện của nó, Mama đừng giết nó, để nó đi kiếm mẹ nó. Hôm qua mama đã giết mẹ nhện của nó rồi, hôm nay đừng giết nó.

Nhưng người con dâu đã nhanh tay cầm chiếc dép đập  xuống sàn nhà nơi có con nhện con đang bò.

Đứa bé khóc oà lên:

- Tại sao mama lại giết con baby nhện, nó đang đi kiếm mẹ nhện của nó mà? Hôm qua Mama đã giết nhện mẹ rồi, sao hôm nay lại giết con baby nhện ???

Người con dâu lúng túng không biết làm sao để giải thích, đành ôm đứa con nhỏ dỗ dành.

- Mama xin lỗi, mama xin lỗi, mama sẽ không  giết nhện nữa.

Ashley nín khóc nhưng đôi mắt còn ngập đầy nước mắt.

Bà Hai đưa mắt nhìn đứa cháu nội, lòng xúc động vì lời nói của đứa cháu 4 tuổi, dù nhỏ nhưng đã có sự suy nghĩ và tánh bản thiện vốn có tự nhiên của một đứa trẻ. 

Bà  nghĩ: "Nhân chi sơ tánh bản thiện" là đây.

Đặt cuốn sách xuống, bà đi ra ngoài vườn. Trời chớm vào xuân vẫn còn se lạnh,  tiếng côn trùng rền rã như đang tấu lên một  bản hòa âm của tạo hóa,  bà nhận ra sự hòa hợp và thánh thiện của chúng, điều mà người bình thường không thể hiểu được, nhưng tâm bà có một cảm giác an lạc tuyệt vời. Khu vườn trồng  nhiều cây ăn trái , cùng với những cây hoa hồng, xen kẽ hoa hải đường, hoa lạc đà, hoa đỗ quyên, một loạt các loài hoa đủ mọi sắc màu.  Mùa xuân chỉ mới bắt đầu nhưng những bông hoa  đã đủ nở rộ trong buổi hoàng hôn, nhất là sau cơn mưa khi những giọt nước mưa còn sót lại lấp lánh trên những bông hoa, thật là quyến rủ.

Chợt một ý tưởng khởi lên trong tâm bà, nếu mai này bà chết,  điều gì sẽ xảy ra với trang web  "Vườn Hoa Phật Pháp" của bà? Với những bài bà viết, những bài dịch, những câu chuyện tâm linh này sẽ như thế nào. Bà yêu trang web hơn cả yêu bản thân bà. Bà làm việc từ sáng đến tối,  làm tất cả mọi việc với tâm trí và đôi tay của  mình  trên bàn phím máy vi tính. 

 Bà luôn luôn lo lắng rằng điều gì đó sẽ xảy ra với trang web của mình. Bây giờ giả sử bà chết vào ngày mai, ai sẽ thay thế bà làm tất cả những điều này? Ai sẽ làm công việc này? Hay là nó sẽ đi vào hư vô vì định luật của tam tướng cuộc đời là: Vô Thường, bất toại nguyện và Vô Ngã !!!

Vợ chồng bà bồng bế hai con nhỏ chạy trốn khỏi cuộc tấn công tàn khốc của cộng sản vào Sàigòn, định cư tại nơi đất khách quê người, với những khó khăn vì khác biệt ngôn ngữ, tập quán, cha mẹ, anh chị em phân tán, ra đi bỏ lại nhà cửa, tiền bạc. Vợ chồng bà cố ngoi lên bằng ý chí trở lại học đường, bắt đầu lại từ đầu với bao sự thiếu thốn, cơm nước gạo tiền.

 Giữa lúc đang cố gắng trong sự hi vọng nhỏ bé. Có lẽ là do Chư Thiên dẫn dắt mà  vợ chồng bà gặp được vợ chồng giáo sư người Cuba, cả hai là giáo sư giảng dậy tại viện đại học, họ cũng đã từng là người di tản ra khỏi đất nước xứ sở của họ để lánh nạn cộng sản. Nên họ có sự thông cảm với hoàn cảnh gia đình bà, và họ đã tận tình giúp đỡ hai vợ chồng bà.  Nhờ vào sự giúp đỡ của vợ chồng người Cuba hướng dẫn cách thi vào đại học và còn tài trợ tiền học phí cho hai ông bà. Ông bà đã học được những đức tính cao qúi của vợ chồng người giáo sư này là sự từ bi và lòng quảng đại, và sự xả thí.  Nhìn vào tấm gương đó bà đã nguyện với lòng mình là phải trả ơn cho sự giúp đỡ của họ bằng cách giúp đỡ lại những người khốn khó khác mà bà gặp trên con đường đời bà đi qua. Đức Phật đã dạy rằng ở trên đời có hai hạng người khó tìm đó là: Người thi ân, và người tri ân đáp ân.

 Rồi thời gian trôi qua, hai vợ chồng bà kiếm được việc làm tốt sau khi tốt nghiệp đại học. Các con thì khôn lớn, dựng vợ gả chồng cho chúng xong. Giờ đây đã trên 47 năm sống trên đất khách quê người, ông bà đã nhận nơi đây là quê hương mình. 

Cuộc sống ông bà giờ đã ổn định, không còn phải lo toan tiền bạc con cái nữa, vì những đứa con đều đã lập gia đình và có công việc làm ăn khá giả. Bà tìm vui trong kinh sách, ông thì chăm lo vườn tượt. 

Từ rất lâu bà ôm ấp ước mơ viết lách những gì suy nghĩ, những gì học được từ chung quanh. Ngay cả khi bà mới được 4 hay 5 tuổi, thuở chưa biết đọc, chưa biết viết, bà thường hay ngồi nơi bàn học của anh mình, với một tờ giấy học trò và cây viết chì, bà viết  nguệch ngoạc, ai hỏi bà đang làm gì, thì bà trả lời là đang viết truyện, mặc dù chưa biết đọc chữ cũng như viết chữ. Có lẽ đó là nghiệp dư mà bà đã mang theo từ kiếp trước sang kiếp này. Vào năm học tiểu học bà đã bắt đầu viết những câu chuyện ngô nghê về những đứa bạn học, viết xong một bài, bà vò tờ giấy bỏ vào thùng rác chứ không đưa ai đọc vì biết là câu chuyện mình viết rất ngô nghê. Khi lên trung học vì bận rộn bài vở trong lớp nên thỉnh thoảng  bà mới viết.

Và giờ đây, cuộc sống đã ổn định, bà đã bắt tay vào việc tạo nên một trang web "Vườn hoa Phật Giáo". Bà bắt đầu tìm hiểu về Phật Pháp và tạo nên một trang web với những bài viết, bài dịch thuật về Phật Pháp với tất cả tấm lòng biết ơn về sự giúp đỡ của Chư Thiên đã dẫn dắt đưa bà đến con đường tìm hiểu Phật Pháp.

Ðể tránh sự phiền não từ của cuộc sống bên ngoài xã hộ, bà không giao tiếp với bất cứ ai, ngày ngày bà làm việc miệt mài viết lách và nghiên cứu Phật  Pháp suốt 20 năm trời, bỏ hết những tuế toái phiền lụy của thế gian. Giờ đây bà cảm thấy mãn nguyện vì đã có thành tích đáng kể khi nhìn vào trang web mình đã làm.  

 Đây là cách bà biểu lộ niềm tin vào Phật Pháp. Niềm tin chánh pháp là đức tính tốt của tâm hồn. Nó là đức tính bẩm sinh, mà bà có thể đánh giá từ trường hợp của chính mình, từ những người bà đã gặp trong đời, từ tất cả những gì bà thấy xung quanh mình, đức tin bẩm sinh này vốn có ở tất cả người Phật tử Việt Nam ở một mức độ đáng tán thán.

 Cuộc sống của người Phật tử Việt Nam thể hiện như một chuỗi liên tục của niềm tin. Việc một người Việt Nam mà không tin vào Đức Phật đó chỉ là một cách nói rằng người đó tin vào một điều gì đó khác, cho những ai không tin hoặc phủ nhận niềm tin vào Phật Pháp.

Ở tuổi già, hầu như ai cũng thường nhớ tới thời tuổi thanh xuân của mình với bao ước muốn giá mình được sống lại thời thơ ấu đó. Bà Hai cũng có sự hoài niệm về thời quá khứ của mình. Điều mà bà mong muốn sao cho cuộc sống trong đời này được an nhiên tự tại, luôn được thanh thản trước mọi sự vô thường thay đổi  của cuộc đời, nội tâm được an trú trong những việc thiện để làm tư lương cho cuộc sống kiếp sau.

Thời gian vô thường, cuộc sống bận rộn với những công việc tất bật hàng ngày, công ăn việc làm, những  trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, khi nhìn  lại mình thì thấy mình đã già, thời gian như tên bay, mới thấy đời người thật ngắn ngủi để rồi thảng thốt khi  bà thấy được sự vô thường ở ngay thân bà. Và bà hiểu ra một điều, được sống thanh thản hưởng chọn niềm yêu thương là điều vô cùng quý giá. 

Bà nhớ câu chuyện đã xảy ra cách đây 50 năm, nhà bà là đại lý bán gạo, cửa hàng nằm ngay đầu ngõ nên buôn bán người ra vào tấp nập. 

Một hôm khi mở cửa hàng, bên hàng cây cổ thụ đối diện với cửa nhà bà một cái chòi vừa được dựng lên ngay dưới gốc cây. Nói là cái chòi, chứ thực ra là một cái mền nhà binh cũ được buộc vào thân cây và một người đàn ông khoảng độ 60 tuổi, ăn mặc rách rưới nằm ngủ ngay đó. Nghe tiếng cửa mở ông ta ngồi dậy gật đầu chào, bà gật đầu chào lại, và thắc mắc ông ta là ai lại dựng lều đối diện cửa nhà mình, nhưng rồi bà đi vào nhà để tiếp tục dọn hàng  bán và  không để ý gì đến người ăn xin đó nữa.

Khoảng giờ ăn trưa, con trai lớn của bà Hai lúc đó vừa tròn 4 tuổi  nó nói với bà:

- "Mẹ, con muốn cơm."

 Bà nghĩ tới giờ cơm rồi con đói bụng nên xuống bếp múc một tô cơm, chan nước thịt kho trộn đều vào tô cơm  rồi gắp 2 miếng thịt kho lớn và nửa quả trứng vịt kho để vào trong tô cơm, rồi  để trên bàn cho con ngồi đó ăn để bà ra bán hàng vì lúc đó có một người vào mua gạo.

Bà Hai loay hoay với khách mua gạo không để ý đến đứa con đang ngồi ăn cơm, đến khi cửa hàng vắng khách bà quay lại bàn ăn thì không thấy thằng bé đâu, bà gọi tên nó nhưng không nghe tiếng trả lời, bà vội chạy ra cửa thì thằng bé đang đứng nhìn người ăn xin, trong khi người ăn xin cầm tô cơm của nó ăn một cách ngon lành. Bà đứng lặng nhìn cảnh tượng mà trong lòng xúc động. Thì ra,  con xin cơm cho người ăn xin. Hèn chi nó nói mà thiếu chữ "ăn".

- "Mẹ, con muốn cơm",  chứ nó không nói là: "Mẹ, con muốn ăn cơm."

 Từ đó, mỗi ngày bà đều cho ông ta một tô cơm vào buổi ăn trưa và buổi ăn chiều. Người ăn xin ở đó luôn tưởng chừng như là nhà ông ta, không biết gia đình ông ở xứ nào mà lưu lạc đến trước cửa nhà bà Hai, tứ cố vô thân. Mỗi khi trời đêm mưa gió, ông nằm co ro trong lều, bà Hai lại loay hoay đi kiếm mền cũ đem ra cho ông.

Người ăn xin đó có cặp mắt u buồn,  có điều  gì đó u uần đau khổ  tỏa ra từ cặp mắt ông.  Đôi mắt ông như muốn nói lên một điều gì đó rất là đau buồn đã xảy ra trong đời của ông. Ngày qua ngày, rồi một năm sau đó, một buổi sáng  bà Hai mở cửa, người ăn xin vẫn nằm đó, không ngồi dậy chào bà như mọi khi, nhưng bà không để ý mà đi vào bên trong để chuẩn bị bán hàng. Một lúc sau bà đi ra cửa vẫn thấy người ăn xin nằm trong lều, bà đến gần lều và gọi, ông ta không trả lời, bà cúi xuống lay ông ta thì người ông đã cứng đờ. Bà hoảng hốt kêu ông Hai báo với cảnh sát là có người chết. Sau đó cảnh sát đến và mang ông lão ăn xin đi,. Một cuốn sách rớt lại nơi ông ta nằm.

Bà Hai mang vào nhà, đó là cuốn sách học trò đã cũ và nhầu nát, một cuốn nhật ký của ông đã viết rất nhiều về những gì xảy ra trong cuộc đời của ông . Bà mở ra đọc, thì biết được câu chuyện đau thương đã xảy ra với người ăn xin này. 

Quê ông ở một làng gần Trảng Bàng,  ông là ông giáo làng dạy học những đứa trẻ trong làng, Vợ ông cũng là cô giáo trong làng, hai người quen nhau vì cùng dạy  tại ngôi trường trong làng và rồi nên duyên vợ chồng, hai vợ chồng ông có một đứa con đi lính Cộng Hòa. Rồi một hôm đứa con trai về thăm nhà thì đêm đó cộng sản pháo kích vào làng trúng nơi giường  con ông. Vợ ông nằm ngủ ở cái giường gần đó cũng bị sức èp của trái pháo bị thương nặng sau đó cũng qua đời, ông thoát nạn là vì lúc đó ông đã thức dậy đi ra sau vườn vệ sinh nên ông không bị gì . Sau khi an táng vợ con xong, không còn bà con thân thích gì ở làng quê đó, ông lên Sàigòn và gốc cây trước cửa nhà bà Hai là nơi đầu tiên ông tá túc.

Đó là câu chuyện về sự Vô Thường, sự Đau Khổ và sự Vô Ngã của một đời người ngắn ngủi, bà đã mang nó theo trong tâm trong suốt bao năm tháng. Nó là bài học cho bà và nó cũng là tấm gương cho bà soi để làm hành trình trong cuộc sống của bà./.


Saturday, November 5, 2022

Niềm Tin !!!

                                                                            Niềm Tin !!!

Tác giả xin viết câu chuyện hư cấu "Niềm Tin" dựa theo câu chuyện của một tác giả người Tây Tạng và, cũng có thể nói một số người Việt Nam rằng: Niềm Tin mà không hiểu Phật Pháp, không có vị minh sư hướng dẫn Chánh Pháp thì dễ đi vào con đường hiểu sai lạc.

Minh Hạnh


Quần thể tu viện vài năm trước chỉ là một dãy nhà cũ nát lộn xộn, sau đó mọi thứ bắt đầu được sửa chữa tu bổ lại. Bây giờ tu viện tự hào là một ngôi đền rực rỡ, có một hội trường để Phật tử sinh hoạt, và một chánh điện chính nằm giữ ngôi chùa cao vút. 

Dường như các nhà sư của tu viện đang cạnh tranh để xem ai có thể dựng lên tòa nhà lớn nhất. Quả thực, đạo sư Bon, ông tự nhận mình là vị Lama tái sinh, mọi người ở đây gọi ông là Lama Bon, ông sống trong một tòa nhà lớn và cao hơn tất cả những tòa nhà khác. Ở tuổi năm mươi, người dân địa phương nhận xét rằng đôi tai to và dày của ông cho thấy ông là một chú gấu trúc, và tin rằng hóa thân trước đây của ông là một ẩn sĩ nổi tiếng, người đã hiển thị sức mạnh siêu nhiên, tuyệt vời.

Hầu hết người dân địa phương đều chân thành tin tưởng vào Lama Bon, ông thường nói:

"Cuộc sống trên đời này không bao giờ là bình yên." 

Điều này có vẻ đúng, bởi vì ông đã nghe nói rằng có một nhà sư ở tu viện khác đã tuyên bố chính ông ta mới là hiện thân của hóa thân trước đó của  Lama Bon. 

Lama Bon đã lo lắng về điều này cho đến khi "kẻ mạo danh" mình chết, từ đó Lama Bon mới có một cuộc sống ít căng thẳng hơn.

Một bộ lạc lớn gồm những Phật tử hết sức tận tụy sống gần tu viện cả mùa xuân nếu có đủ cỏ cho gia súc của họ. Các thành viên bộ lạc này bao gồm bà  ske và con gái của bà là cô Klu, người thường xuyên mang sữa chua và cơm đến cúng dường cho Lama Bon với hy vọng do phước báu cúng dường này mà họ có cuộc sống tương lai tốt đẹp hơn.

Trên dòng sông với nhiều mỏm đá nhấp nhô chảy gần tu viện vào mùa xuân,  dòng nước và băng đá nhấp nhô này giống như một con rắn khi nhìn từ trên đỉnh núi. Mỗi buổi sáng, khi những con chim cúc cu nhảy từ cành cây này sang đến cành cây kia như chào đón mùa xuân đến. 

Cô bé Klu đứng dậy và nói, "Mẹ ơi, con bị bệnh đau răng."

Mẹ cô trả lời, "Chà, không thể để nó trở nên nặng hơn. Con đã không phàn nàn về nó với mẹ ngày hôm qua. Con hãy đi gặp cô shis người hàng xóm của chúng ta, và bán len mà cha con đã thu thập ngày hôm qua từ bầy cừu của mình cho cô Shis. "

"Vâng, thưa mẹ," Klu trả lời, và ra ngoài đợi.

Khoảng một giờ sau, người hàng xóm đến, cô bé Klu nhìn chằm chằm vào chiếc áo len của người hàng xóm đang mặc và nói trong sự thán phục. 

"Chị ơi, áo len của chị đẹp làm sao! Nó được làm bằng vật liệu gì? "

Người phụ nữ hãnh diện, giơ tay lên, chỉ vào len chất đống như một ngọn đồi trên một chiếc xe tải phía sau cô ấy, và nói, "Ở đằng kia. Nó được làm bằng len đó. "

Klu nhìn chiếc áo len sạch sẽ, đầy màu sắc và hấp dẫn rồi cô nhìn lại đống len của cô bán bị trộn với bụi. Nhìn vào một lần nữa, cô ấy nói một cách nghi ngờ, "Uh ... Chị nói nói đùa sao. "

 Người phụ nữ đã đưa cho cô 200 ngàn để mua len của Klu. Sau đó trên đường Klu về nhà để gặp mẹ, cô nghĩ mẹ cô sau khi đếm tiền "Mẹ sẽ đưa một trăm ngàn để cúng dường cho chùa , đó là sự đóng góp cúng dường cho Lama Bon tái sinh của chúng ta, người đã đến thăm từng gia đình trong tháng này. Nhưng tôi chắc rằng mẹ sẽ vẫn mượn một trăm ngàn để dâng cúng đến Lama Bon. "

Khi cô ấy đang đi bộ về nhà, hình ảnh của chiếc len xinh đẹp đó hiện lên liên tục trong tâm trí cô.

Khi đến nơi, mẹ cô đã lấy 200 ngàn mà không hỏi gì về việc bán len, bà chỉ hỏi, "Răng của con thế nào?"

“Nó vẫn còn đau mẹ ơi,” Klu nói.

Mẹ cô ấy lấy ra một bức ảnh của Lama Bon, để nghiêng tấm ảnh dựa vào  một hòn đá nhỏ và nói: 

"Con sẽ khỏi bệnh đau răng sau khi lễ lạy bức ảnh này một trăm lần. Sau khi hoàn thành 100 lạy, con đem sữa chua và cơm đến cúng dường cho Lama và hỏi Ngài về cơn đau răng của con. Sau đó mẹ và cha sẽ mời một số nhà sư đến nhà tụng kinh cầu nguyện cho con."

Cô Klu mệt mỏi sau khi vội vàng hoàn thành 100 cái lễ lạy của mình,

Klu nghỉ ngơi một lúc, cởi bỏ chiếc áo choàng cũ bằng da cừu, và khoát lên người một chiếc áo choàng mỏng màu nâu, và bắt đầu đi theo con đường ngoằn ngoèo dẫn đến Tu viện. Ánh nắng mặt trời chiếu xuống những ngọn núi dưới một bầu trời trong xanh không một gợn mây. Cô cảm thấy khỏe hơn.

Lama Bon vừa bước xuống từ giường khi Klu bước vào buồng của mình. Sau khi lễ lạy ba lần, cô đã nói với ông tất cả chi tiết về cơn đau răng của cô. Cô Klu mười bảy tuổi và không đẹp lắm. Tuy nhiên, bộ ngực đẫy đà, đôi mắt to và đôi môi mịn màng đã khiến cô hấp dẫn. Lama Bon nhìn chằm chằm vào bộ ngực của cô và nghĩ, "Nó đã quá hấp dẫn, ta phải  tham gia vào bí hiểm này, "và sau đó ra lệnh cho Klu tiếp cận ông. Khi chuẩn bị khám đau răng của cô ấy, ông đã áp mặt vào má cô và nói: "Mở miệng ra."

Klu há miệng và nhắm mắt ...

***

Sau một bát cereal và một lát bánh mì nướng cho bữa sáng, Lama Bon vẫn cảm thấy hơi đói và bắt đầu ăn sữa chua Klu đã mang lại. Trong khi ăn, ông cầm một tờ báo và đọc.

Nắng buổi sáng tươi mát hắt qua cửa sổ chiếu lên bàn ăn trong phòng nơi Lama đang ngồi trên ghế. Tiếng gõ lớn đột ngột ở cửa ông nhìn lên thì thấy hai nhà sư bước vào, họ nhìn nhau giận dữ với khuôn mặt đỏ sẫm, và đồng thời nói: 

"Đại sư! Xử giùm tôi vụ này..."

Lama Bon lên tiếng: "Chờ đã! Chờ đã! Tôi không biết ai đúng nếu cả hai cùng nói một lúc."

Ông chỉ vào nhà sư bên phải và nói:,

"Sư nói trước đi."

Nhà sư chỉnh lại chiếc áo cà-sa trên vai và nói: 

"Thưa Ngài, tối qua sư Tshul đến nhà tôi. Tôi đã cho anh ấy bơ trà trong chén trà bằng bạc của tôi. Anh ấy nói, 'Nó đẹp quá,' và ngắm nghía nó mãi. Trên thực tế, tôi không muốn bán nó với giá thậm chí dù có người muốn 2.000 đồng. Chúng tôi đã nói chuyện rất lâu. Một lúc sau đó, tôi phải đi ngoài và đi tiểu. Khi tôi trở lại thì sư Tshul đã đi mất. Và tôi phát hiện ra rằng cốc trà của tôi đã biến mất, khi tôi thức dậy sáng nay và muốn uống một bát trà. Tôi đã tìm kiếm nó khắp nơi trong nhà tôi, nhưng tôi không tìm thấy nó. Bạn biết đấy, một tu sĩ như tôi, tôi nên tìm nó trong phòng của tôi, nhưng tôi đã tìm không thấy. Chỉ có Tshul đã đến phòng của tôi ngày hôm qua. Khi tôi lịch sự hỏi anh ấy về việc chén trà bằng bạc bị mất. Thật bất công. Ngài nên xử giùm tôi, thưa Ngài! Chỉ nghĩ rằng! Làm sao tôi, một nhà sư mặc áo cà sa lại có thể nói dối được? "

Lama nhìn vị sư kia, ra hiệu rằng đã đến lượt ông ta nói.

Nhà sư kia phát ra một tiếng ho ngắn và bắt đầu:  "Tôi đã đến phòng của Bkra uống trà và khen ngợi chén trà của anh ấy. Tất cả đều đúng. Nhưng mà, Không đúng là tôi đã lấy chén trà của anh ấy khi tôi rời đi. Làm thế nào tôi có thể làm một cái gì đó như một nhà sư mặc áo cà sa? như thể anh ta nghĩ rằng tôi lấy trộm chén trà của anh ấy. Đây là lý do tại sao chúng tôi đang ở đây. Xin vui lòng xử cho đúng!"

Lama Bon đứng và nói, “Chuyện này đã xảy ra giữa hai người. Đối với tôi điều đó thật dễ dàng! "

Hai nhà sư ngạc nhiên nhìn vào mặt Lama Bon khi ông nói: "Trong thực tế, đây là một câu hỏi rất dễ, nhưng chúng ta không biết phải đưa ra hình phạt nào cho tên trộm. Tôi có cách làm cho hai bạn một cách tốt để xác định kẻ trộm. " 

Một vị sư nói:  "Tshul đã đánh cắp chén trà của tôi."

Tshul đáp lại, "Tôi nguyện trước Tam Bảo rằng tôi đã không ăn cắp nó."

Bây giờ buộc phải chứng minh khả năng pháp thuật của mình, Lama Bon đứng dậy, đóng cửa, kéo rèm cửa sổ lại, và lấy một vật thể được bọc trong vải màu vàng từ bàn làm việc của mình. Đó là một tôn tượng điêu khắc kích thước chừng ba mươi lăm milimét.

Quên đi hiềm khích, hai nhà sư nhìn nhau trong sự nghi ngờ.

Lama Bon nói, "Đây là một vị Phật có thật. Hai người phải làm một tuyên thệ và để tôn tượng này lên đỉnh đầu của mình. Kẻ nào nói dối sẽ rời khỏi thế giới này trong ba ngày. Hãy hiểu điều này nếu bạn vẫn muốn sống."

Ông đã giải quyết nhiều vấn đề khác nhau bằng cách sử dụng thủ tục này. Lama chắc chắn tin tưởng vào tượng Phật này và tin chắc rằng mình có thể nhanh chóng giải quyết vụ này.

Sư Bkra  đặt tượng Phật trên đỉnh đầu mà không do dự và thề, "Tôi chắc chắn sẽ chết trong ba ngày và sau đó được tái sinh ở Địa ngục nếu tôi thực sự lấy trộm chén trà của Tshul. "

Tshul thề, "Tôi phải xuống Địa ngục trong ba ngày nếu Bkra không ăn cắp chén trà của tôi. "

Lama Bon nói, "Sau ba ngày, người vô tội sẽ vẫn sống trên thế giới này và tội nhân sẽ ở Địa ngục. "

Sau đó, cả hai rời đi, nghi ngờ rằng có chăng những phương pháp như vậy đã được sử dụng để xác định bên có tội?.

Ba ngày trôi qua và hai nhà sư trở lại gặp Lama Bon, ông đã rất ngạc nhiên. Ông nghĩ ngợi lung tung. Khả năng phù phép của ông đã chứng tỏ đã bốc hơi rồi. Ông nói trong vô vọng,:

 "Một cái chén trà không có giá trị gì cả. Về nhà đi."

"Hừ!" Hai nhà sư thốt lên thất vọng và ra về.

Đột nhiên Lama Bon nhớ rằng Stobs đã mời ông đến tụng kinh cho đám tang của cha của Stobs. Ông đặt bát sữa chua xuống và nhanh chóng đi ra ngoài để đến nhà của Stobs, ông mang theo chuông mõ.

Stobs là con người trung thực và gia đình anh ta là người giàu nhất trong làng quê. Stobs thường bị cha nói "Con không trung thực, con là một kẻ ngốc bị người ta lợi dụng," cha ông ta thường nói: 

"Giúp đỡ người khác rất tốn kém! Đừng lãng phí tiền bạc!"

Tuy nhiên, Stobs đã giúp đỡ người khác nếu anh ta có thể, và đã bỏ qua lệnh của cha mình.

Khi Lama Bon đến nơi, Stobs nói:

"Thưa đại sư, con rất tiếc vì con là một đứa con bất hiếu và không thể phụng sự cha mình. Hôm nay con đã vững tâm vì có Ngài đến để tụng kinh cho Cha. Xin hãy phù hộ cho linh hồn của Cha để được tái sinh trong thế giới này hoặc ở Tây Phương Cực Lạc. "

"Đừng lo lắng. Ta có một cách để đảm bảo rằng cha của con sẽ được tái sinh trong thế giới này. Con sẽ gặp lại ông ấy, "Lama 'Bon quả quyết và bắt đầu tụng, nhưng không ai nghe được ông tụng kinh gì, chỉ thấy Lama Bon thì thào rất nhỏ trong miệng. Dường như ông sợ người ta biết ông không hề biết kinh kệ là gì.

 ****

Trên đường trở về nhà, Klu nhận ra điều gì đó đã xảy ra khi cô nhìn thấy nhiều người tụ tập tại nhà của Stobs. Cô sớm nhận ra rằng đó là một đám tang. Một lúc sau, má cô đỏ như táo khi cô bắt gặp ánh mắt của Lama Bon. Cô  vội vàng  bỏ về nhà trong sự bối rối. Người dân địa phương bận tâm đến đám tang và phớt lờ cô. Về đến nhà, mẹ cô đã chuẩn bị bữa tối. Bà skyid nói:

 "Con gái, răng của con có ổn không? Ân nhân của chúng ta, Lama Bon, nói gì? "

"Ồ! Răng của con không còn đau nữa," cô ấy trả lời.

"Ông ấy đã nói gì về nó?" Bà skyid nhấn mạnh.

"Ồ ... ông ấy không nói gì cả. Ông ấy chỉ ngó vào miệng con,"

Klu thì thầm, sợ tiết lộ những gì đã thực sự xảy ra. Sau đó, cô không muốn mang sữa chua và cơm cho Lama Bon nữa, nhưng mẹ cô tức giận nhấn mạnh: 

"Con gái, đây là vinh dự của chúng ta. Nếu chúng ta làm điều này cho một Lama trong cuộc sống này, chúng ta nên vui mừng. Chúng ta sẽ bị trừng phạt bởi các vị thần nếu con tiếp tục có thái độ sai trái, ngu ngốc như vậy."

****

Thời gian trôi qua nhanh, một mùa thu đã tới. Các đỉnh núi màu xanh như thảm cỏ trải dài từ trên chảy xuống thung lũng. Cỏ và lá vàng bay vu vơ trong gió khi những người chăn gia súc địa phương lái xe gia súc của họ về trại.

"Thịt cừu dành cho các nhà sư vào mùa thu, sữa chua dành cho các cô dâu ở mùa thu ", một câu nói địa phương. Thật vậy, các nhà sư đã đợi thịt cừu và sữa. 

Một số nhà sư nở một nụ cười thật tươi và chào đón những người họ nhìn thấy đến với một túi nặng dọc theo con đường đến tu viện. Hầu hết du khách đều hỏi: 

"La ma Bon có sống ở đây không?" 

Khi câu trả lời là không, họ tiếp tục bước đi.

Đạo sư Bon rất thích những món quà được cúng dường từ những người Phật tử của mình. 

Nhưng đôi khi không phải ông đều hài lòng với mọi việc xảy ra. Đó là vào một buổi sáng đẹp trời, Lama nhận thấy Klu đã mang thai. Khó có thể tin vào mắt mình, ông hỏi:

- "Có phải cô có thai không?"

Klu cúi đầu, khuôn mặt của cô dường như được chiếu sáng bởi những cục than sáng rực từ đống lửa.

- "Ai là cha của con cô?" Đạo sư Bon hỏi tiếp.

Đôi mắt sáng của cô nhìn ông một cách ai oán. Cô giữ im lặng.

- "Cô có nói với ai  khác về điều này không?" Lama Bon hỏi tiếp.

- “Không ai cả,” Klu  khẽ thốt lên.

- "Tốt. Hãy giữ bí mật của chúng ta trong trái tim con mãi mãi. Ta sẽ tạo ra một số phận tốt đẹp cho đứa bé." Lama Bon hứa.

- "Chính phủ nghiêm ngặt về giới hạn sinh đẻ và gia đình tôi nghèo. Mẹ thường hỏi tôi về bố của đứa bé. Mẹ tôi muốn cha đứa bé sống trong nhà của chúng tôi. Nếu ông từ chối, chúng tôi sẽ giao đứa bé cho ông sau khi nó được sinh ra, ” Klu nói, nước mắt chảy dài trên má.

Lama Bon, bàn tay trái nhẹ nhàng lần chuỗi hạt, và nói:

- "Về nhà. Nói mẹ của con đến gặp ta."

Khuôn mặt Lama Bon cau có. Những nếp nhăn trên trán hằn lên, nhưng một lúc sau một ý tưởng nảy ra với ông và đôi mắt của ông sáng lên vẻ mãn nguyện. Ông lẩm bẩm: 

- "Đúng vậy." Ông đã nhớ lại rằng Stobs đã nhờ ông xác định danh tính của cha mình tái sinh sau khi chết.

****

- "Con không cần phải lạy. Đừng làm vậy," Lama Bon nói với bà Skyid, mẹ của Klu, khi bà đang chuẩn bị qùy xuống lễ lạy ông.

-  "Con tính làm gì với con gái của con?" Ông hỏi.

- "Thưa đại sư, con hy vọng nhận được sự hướng dẫn từ ngài, Lord lama," bà Skyid khẩn nài.

Lama Bon trả lời :

- "Thật là may mắn khi đứa bé là hóa thân của một người giàu có. Gia đình sẽ xác định vị trí và xác định đứa trẻ, người sẽ giúp gia đình con nuôi đứa bé trưởng thành. Đừng hỏi con của con về cha của đứa bé là ai. Cô ấy có thể tự tử hoặc làm điều gì đó hấp tấp nếu con gây áp lực cho cô ấy. Cô ấy còn trẻ và rất rụt rè. Con sẽ làm gì nếu cô ấy thực sự tự tử? Sau đó, có vẻ như con đã lấy hai mạng sống - cô gái và đứa trẻ chưa chào đời của cô ấy. "

- "Thưa  đại sư, thật đúng là như vậy. Con sẽ làm gì nếu con mất con gái này? " bà Skyid thở dài, và nhanh chóng qùy xuống lễ ba lạy đến Lama Bon.

Lama gợi ý, "Chuyện này sẽ tốt hơn nếu con đừng nói với người khác. "

••• 

Mùa xuân đến như mọi khi và đó là ngày giỗ Cha của Stobs. Stobs đến thăm tu viện và tặng một 100 cho mỗi nhà sư và đóng góp 1.000 cho Lama Bon.

Trong khi lễ lạy Lama Bon, Stobs  nói: "Người Cha thân yêu của con đã đi đến một thế giới khác. Đã một năm trôi qua. Cha thường xuất hiện trong giấc mơ của con. Linh hồn của cha con đã được tái sinh ở đâu? "

Lama Bon nhắm mắt và im lặng như ông đang ở trong trạng thái nhập định, tay thì nhẹ nhàng lần chuỗi hạt, và một lúc sau ông mở mắt ra và phán rằng:

- "Thật vậy! Ta đã hứa với con rằng cha của con sẽ tái sinh trong làng của chúng ta khi còn là một cậu bé. "

Phản ứng duy nhất của Stobs là há to miệng để tỏ vẻ mừng rỡ. Lần thứ  hai Stobs chắp tay lên ngực của mình như một dấu hiệu của sự lòng sùng kính Lama Bon người đang lần chuỗi hạt.

 Lama Bon nói, "Cha của con được tái sinh ở Mkon gia đình của Skyid. Tên của đứa trẻ là Chos. "

Hai năm sau, Stobs đưa gia đình của bà Skyid đến tu viện để đi nhiễu quanh nơi thờ phượng. Khi Lama Bon thấy đứa bé giờ đã hai tuổi, Chos đang nhìn vào một bức tranh trên tường của phòng họp, ông đến gần và nói một cách niềm nở,:

-  "Cậu bé ngoan, ta sẽ cho cậu nhiều kẹo nếu con  nói với chú Stobs  rằng chuỗi hạt quanh cổ anh ấy là của con. Nếu con không làm điều này, con là một cậu bé hư và ta sẽ không cho con gì cả. "

Háo hức muốn lấy kẹo, đứa trẻ Chos đến gần chú Stobs và nói:

- , "Bạn đang đeo chuỗi hạt cầu nguyện của ta!"

Stobs thốt lên:

-  "Ôi Tam Bảo! Chos  là linh hồn của cha tôi, phải không? Anh ta chắc chắn nhận ra chuỗi hạt của mình ". 

Stobs lấy chuỗi hạt vòng quanh cổ mình và trao cho chú bé Chos, rồi ôm lấy cậu bé một cách nồng nhiệt.

Bà Skyid, mẹ của cô Klu, miệng há hốc, đôi mắt tròn xoe, bà qùi xuống lạy ba lạy Lama Bon, và nói:

-  "Đại sư đã tuyệt vời, Ngài đã thấy và biết được tất cả, con đội ơn Ngài."

Không ngạc nhiên khi nhìn sự việc xảy ra, Klu tin rằng mỗi Lama đều có cách riêng của mình để cứu tội nhân ra khỏi bóng tối, nhưng những người phàm trần thường thì không thể làm được./.


Sunday, October 30, 2022

Trăn trở tuổi già

 Trăn trở tuổi già.

Minh Hạnh, ngày 30 tháng 10, 2022

Với một tách trà bạc hà ông ngồi xuống sofa, và nhấp một hớp trà, mùi thơm vị ngọt của trà bạc hà làm cho tâm ông dịu bớt buồn phiền, mà gần đây , ông thậm chí còn trở nên cô độc hơn và điều đó đã cho thấy. Ông hầu như không có bất kỳ người bạn nào và những người được cho là bạn của ông thì không có đủ khả năng để giải quyết các vấn đề của ông. 

Hôm nay là ngày cuối ông ngồi trong căn nhà này. Vì bất đắc dĩ, ông và vợ ông ngày mai vào viện dưỡng lão, tuy ông không muốn mà vẫn phải đi vì ông không nỡ để vợ ở trong  viện dưỡng lão một mình. Từ ngày vợ ông đi siêu thị bị té rồi bị liệt không thể tự đi được nên cần sự chăm sóc của ông, cũng đã 3 năm rồi. Những sinh hoạt hàng ngày giờ đây mình ông không còn có thể tự xoay xở. Con cái thì ba đứa, có trai có gái, đều ở xa vì công việc làm ăn không thể về giúp ông chăm sóc mẹ chúng, thêm nữa chúng lại có gia đình  phải chăm sóc con cái, không rảnh để quan tâm đến ông, ngay cả mấy tháng nay cái điện thoại cầm tay của ông bị hư không gọi nói chuyện được với bạn bè mà chẳng có đứa con nào về giúp ông sửa, do vậy  sự lựa chọn duy nhất của ông là viện dưỡng lão cho cả hai vợ chồng.

Tại viện dưỡng lão họ dành cho vợ chồng ông một căn phòng sạch sẽ, biện bày quan cảnh hài hòa đẹp mắt, đầy đủ  các  phương tiện cần thiết, cơm nước thì ngày 3 bữa  thức ăn cũng ngon miệng hợp khẩu vị người VN, vì viện chủ viện dưỡng lão là một vị bác sĩ người VN điều hành, nơi đây có các y tá chăm sóc cho vợ ông, họ phục vụ rất chu đáo.

Giá cả đắt đỏ, tiền hưu của ông không đủ trả. Tuy nhiên, nhờ có qũy tài trợ thêm của chính phủ nên hai vợ chồng ông mỗi tháng chỉ phải trả một phần tượng trưng là 1.000 dollars nên ông không phải lo lắng về khoản tiền này.

Ông đưa mắt nhìn chung quanh phòng khách. Cái tâm tham của con người thật vô cùng tận, nó là một căn nhà trống khi mới mua,  dọn vào thì đi đứng thoải mái vì ít đồ đạc. Rồi ngày qua ngày, đi đâu thấy món đồ nào đẹp, từ cái tủ, cái bàn, cái ghế, mấy lọ gốm cổ. Rồi kinh sách quá nhiều, rồi nào là sách truyện, sách về chính trị, ông có quá nhiều vì năm này tháng nọ ông sưu tầm đem về đọc. Ông đã phải cho đi mấy chục thùng sách mà ông rất qúi đến chùa, bây giờ dù đã cho bớt nhưng nhà ông vẫn còn lại một số sách ông giữ lại để đọc, rồi giờ đây, mai này ông phải để chúng lại căn nhà này, ông đã trăn trở không biết làm sao mang hết sách vào viện dưỡng lão để đọc, nhưng khổ nỗi trong đó họ chỉ dành cho vợ chồng ông một phòng nhò đủ kê hai cái giường, một ghế sofa, một cái TV nhỏ treo trên tường và một cái tủ lạnh nhỏ, không còn chỗ trống để kê cái tủ sách cho ông.

Bên cạnh cửa sổ là một bức bình phong cẩn xà cừ và cái bàn có cẩn xà cừ mà vợ ông đã trân trọng và hãnh diện mỗi khi bạn bè đến nhà chơi ngắm nghía khen đẹp, rồi bộ bàn ăn bằng gỗ hồng được chạm trỗ tinh vi  do người bạn của ông đem qua từ Trung quốc. Rồi giường, tủ, ông không biết xử trí chúng như thế nào. Ngay cả căn nhà này mà vợ chồng con cái đã sống trên 50 năm rồi, đối với vợ chồng ông thì căn nhà rất đẹp, rất ấm cúng, đã cho vợ chồng ông và các con những chuỗi ngày thật hạnh phúc. Bây giờ bán đi thì tiếc, nhưng kêu đứa con nào về ở để giữ nhà vì vợ chồng ông không muốn bán, nhưng đứa nào cũng lắc đầu lấy lý do là vì công ăn việc làm nên không thể dọn về thành phố này được. Ông ngán ngẫm, và những đồ đạc mà vợ chồng ông vác về trong suốt 50 năm để bày biện trong nhà thì cũng không đứa nào muốn lấy, chúng bảo bố bán ebay đi, vì đã lỗi thời rồi. Ông thấy tiếc, nhưng đành chịu.

Ngoài vườn, khi vợ ông chưa bệnh, bà là người rất thích trồng trọt, nhưng từ khi bà bệnh không làm nữa, đến ông bây giờ cũng chịu thua, nào là chậu ổi cũng có tới 6 chậu, mùa hè chúng cho trái ăn rất ngon. Mà khổ nỗi nơi ông ở mùa đông giá lạnh, những chậu ổi phải đẩy vào garage. Mai ông đi khỏi căn nhà này rồi, ai săn sóc chúng. Nghĩ tới mà ông xót xa.

Ông nghĩ rằng, giờ đây, căn nhà của ông, giống cái tâm của ông phải thanh lọc bớt những gì không cần thiết trong đời sống, đồ đạc ông phải vứt bỏ cho nhẹ thì tâm của ông cũng phải sàn lọc, buông bỏ những dính mắc, những phiền não của cuộc đời. Ông rời khỏi căn nhà này với hai bàn tay trắng cùng với một tâm hồn thanh thản tĩnh lặng, ông phải tu tập tâm, mỗi tối ông dành một giờ để thiền định, để tập cho tâm ông buông bỏ những tuế toái của cuộc đời để chuẩn bị ra đi với tâm tĩnh lặng giải thoát./.


Thursday, August 12, 2021

Anh tôi về Việt Nam cưới vợ

                                                     Anh tôi về Việt Nam cưới vợ

Minh Hạnh, viết ngày 10 tháng 8, 2021, theo lời kể của một người bạn

Hôm nay tình cờ dạo chơi trên facebook, một không gian ảo và, cũng lại tình cờ ghé thăm trang facebook của anh, đọc lại giòng thơ nhớ thương người vợ mới mất, lòng tôi bồi hồi.

April 7, 2019

 wife died 

after 2 and a half years of illness, 

and her body cremated

according to the family's wish.

I should be very sad but I am not, 

just feeling sentimental.  

I guess the reality of it has not hit me yet, while 

friends and family called all day to share their sadness.  

No! No! I am not sad, 

just feeling unreal.

How could a character in a dream

feeling sad ?

Searched the house and I found

only emptiness 

Called her name and I was met

with silence 

Now that I have lost her,

I want to write something 

to tell her that I love her,

and just send it to the wind. 

CMP

xin phép được dịch bài thơ sang tiếng Việt 

Vợ tôi đã chết

Sau 2 năm rưỡi ốm đau

và nàng đã trở về với cát bụi

dựa theo lời mong muốn của gia đình,

Tôi đáng lẽ phải rất buồn nhưng đã không

Tôi chỉ có sự xúc động

Tôi vẫn chưa sẵn sàng chấp nhận.

Bạn bè và anh em trong gia đình gọi đến liên tục để chia buồn.

Không! Không! Tôi không buồn.

Chỉ cảm thấy đó không là sự thật

Đó chỉ là một giấc mơ

cảm nhận một sự buồn bã?

Tôi đi loanh quanh trong ngôi nhà tìm kiếm

Chỉ một sự im lặng

Tôi gọi tên nàng và tôi nhận được

Sự yên lặng

Và bây giờ tôi đã mất nàng,

Tôi muốn viết điều gì đó

để nói với nàng là tôi yêu nàng,

và đã gửi theo gió mang đi

---------------------------

Hồi tưởng về mối tình đẹp và thơ mộng của anh chị.

 Anh đi du học năm 1966, chị rất đẹp và là giảng viên dạy sinh ngữ Việt tại trường huấn luyện quân sự Mỹ El Paso, hai người gặp nhau tại đây, rồi nên duyên vợ chồng. Tôi nhớ là, lúc đó dù đồng lương dạy sinh ngữ Việt ít ỏi nhưng anh chị vẫn mỗi tháng gửi tiền về giúp ba má tôi lo cho các em ăn học, lúc đó tôi đã lập gia đình với đồng lương công chức của vợ chồng chúng tôi chỉ đủ ăn và đủ chu cấp một ít cho gia đình chồng mà thôi, còn gia đình ba má tôi thì chỉ trông cậy vào tiền cấp dưỡng hàng tháng của anh, đó là một nghĩa cử rất đẹp mà tôi đã hàm ơn anh chị.

Gia đình chúng tôi di tản khỏi VN, 30 tháng Tư năm 1975 trong chuyến vượt biên vĩ đại lần thứ hai của đất nước. Chúng tôi hội tụ với gia đình anh tại thành phố Baton Rouge và đã được anh chị giúp đỡ rất nhiều trong giai đoạn đầu nơi xứ người, những nghĩa cử của anh chị chúng tôi không bao giờ quên. Kể từ thời gian đó chúng tôi thường xuyên gặp nhau, vui có buồn có, và những lần tụ tập ăn uống chuyện trò, đó là thời gian phải nói rất hạnh phúc cho gia đình tôi và gia đình anh, hầu như cuối tuần các con chúng tôi cùng các bạn học đại học tụ tập tại nhà tôi hoặc nhà anh hoặc nhà của những người bạn cùng nhau nấu các thức ăn VN, chúng tôi vừa nói chuyện vừa thưởng thức các món ăn khẩu vị Việt Nam.

Thế rồi, cuộc sống vốn Vô Thường. Sau gần 50 năm vợ chồng, chị đã ra đi để lại cho anh bao niềm đau nỗi nhớ. Anh đã đau buồn, suối lệ là những giòng thơ bi ai làm mủi lòng người đọc. Phận làm em, tôi cũng chỉ biết chia sẻ nỗi buồn cùng anh chứ không thể giúp gì được trong hoàn cảnh một người góa vợ sống cùng đứa con gái mang bịnh tự kỷ. Chúng tôi gồm các em trong gia đình, ai cũng thương anh, nhưng không ai có thể bỏ gia đình của mình mà về sống với anh để chăm sóc anh và đứa con gái của anh, không ai có can đảm để làm việc đó, vì ai cũng có cuộc sống riêng của mình. Chính tôi, đôi khi cũng xót xa khi nghĩ tới hoàn cảnh của anh, và chỉ biết luôn cầu nguyện cho anh có được cuộc sống an vui hạnh phúc. 

Và rồi, cuối năm 2019 anh về VN theo lời mời của người phụ nữ anh quen,  sau đó anh tuyên bố sẽ cưới người phụ nữ này. Các em tôi, có em thì bàn tán và không yên lòng vì sợ anh và cô cháu gái sẽ bị tổn thương, có em thì giữ im lặng. 

Riêng tôi, cũng giữ im lặng, vì tôi nghĩ mọi người có hoàn cảnh khác nhau, không ai có thể đứng từ vị trí của mình mà nói người kia đừng làm cái này, phải làm cái kia. Ngay cả bây giờ, tôi đặt ra trường hợp, nếu gia đình tôi rơi vào tình huống của anh, nghĩa là tôi chỉ có một đứa con gái mang bịnh tự kỷ, và tôi chết đi, có gì bảo đảm là ông xã tôi không đi bước nữa trong tình huống bế tắc của gia đình khi thiếu vắng bóng người phụ nữ trong nhà, ông xã tôi làm sao có thể chăm sóc đứa con gái trên 40 tuổi mang bịnh tự kỷ, và nếu phải thêm bước nữa, sao phải cưới một bà lão khác về để mình lại phải săn sóc họ khi họ đau yếu. Ai có thể trả lời cho tôi câu hỏi này, khi người đó cũng có thể rơi vào hoàn cảnh của anh tôi???

Thêm vào sự suy nghĩ của tôi là, tất cả chúng sanh sinh ra trên đời này đều đi theo nghiệp của riêng mình, nếu là người có phước báu lớn thì đi theo chiều hướng tốt đẹp do nghiệp của mình đã tạo trong kiếp trước, còn người kém phước thì đi theo chiếu hướng xấu của nghiệp mình đã tạo trong tiền kiếp. do đó tôi hoàn toàn im lặng không có ý kiến, chỉ biết cầu nguyện cho anh cùng con gái anh đi theo chiều hướng tốt nhất có thể.

Rồi tôi quên bẳng chuyện anh tính cưới vợ từ VN qua, cho đến một hôm tôi nhận được tin nhắn anh nhờ vợ chồng tôi đi làm chứng để anh bán căn nhà cũ, đến nơi tôi gặp người vợ mới cưới của anh, tuổi chừng 41, tôi không ngạc nhiên, nhưng tôi vui vì đã gặp được chị. 

Sau khi ký xong giấy tờ chúng tôi cùng về nhà tôi chuyện trò vui vẻ trong sự tìm hiểu thêm về nhau. Tôi được biết chị là  nhà giáo dạy Việt văn lớp 12 tại một trường trung học ở Gia Nghĩa và là, người mẹ đơn thân nuôi 2 đứa con một gái một trai. 

Tôi đã bỏ qua tất cả thành kiến, để lắng nghe lời tâm sự của chị, dù trước đó chị là ai, cho dù chánh kiến chúng tôi có thể khác biệt, tôi đã hoan hỉ chấp nhận chị là thành viên mới trong đại gia đình chúng tôi.

Qua lời tâm sự của chị thì, tuy tuổi chị và tuổi anh chênh lệch rất nhiều nhưng chị chấp nhận làm vợ anh vì chị thấy anh là người có học thức, và với sự mong muốn thay đổi cuộc sống của gia đình chị, chị mong có một tương lai tốt, một môi trường tốt cho hai đứa con chị. Ở lại VN môi trường đời sống phức tạp rất khó cho con học lên có tương lai sáng sủa như môi trường bên Mỹ và chị sợ những đứa con chị bị nhiễm những thói xấu của những đứa trẻ thiếu sự dạy dỗ bên VN. Nói tóm lại chị chấp nhận làm vợ anh, bỏ lại phía sau; người thân, bạn bè, công ăn việc làm, dắt 2 con theo anh với hai bàn tay trắng để làm lại cuộc đời với hy vọng tương lai của chị và của con chị.

Về phía anh, anh cần một người mẹ cho con anh, nếu anh mất đi chị vẫn chưa già để có thể đồng hành với đứa con bịnh hoạn của anh, như lời hứa của chị, nên anh yên lòng. Tôi nghĩ rằng, đó là một sự suy nghĩ rất sâu xa đã trăn trở anh rất lâu, anh mới có thể đi đến quyết định như vậy, tất cả là vì đứa con mà nó không thể tự mình bương trải đối diện với đời sống quá phức tạp mai sau, tôi cảm nhận được điều này nơi anh.

Qua lời tâm sự của chị, tôi cảm nhận được và thấy tâm tư tôi trong lời tâm sự đó. Ngày 30 tháng Tư, 1975, chúng tôi cũng có sự đấu tranh ở lại hay đi, nếu ở lại, liệu chúng tôi có thể sống trong chế độ cộng sản mà những đứa con mình không có tương lai, tương lai của chúng là sự thù hằn, sự manh động đánh đấm, sự chấn lột dành giật để có thể sống còn. Do đó, chúng tôi đã bỏ lại tất cả để ra đi với hai bàn tay trắng với hi vọng các con có tương lai sáng sủa, giờ đây các con các cháu đứa là bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỹ sư v.v... nói tóm lại là các con các cháu trong đại gia đình của chúng tôi giờ đây có một tương lai sáng sủa như chúng tôi mong ước. Và, chị bây giờ cũng chỉ mong các con chị được như vậy mà thôi.

Đã có rất nhiều rất nhiều người sau tháng Tư, 1975 sống trong trạng thái tâm tư dằn xé đi hay ở, ở lại các con thành gì, còn ra đi các con có tương lai, và họ đã lựa chọn bằng nhiều cách để được ra đi, thậm chí có người chết trên đường vượt biên, có người mất vợ, người mất chồng, mất con, có người mất tất cả. Chị cũng là một người trong số đó, chị chấp nhận bỏ lại tất cả để cho con có một tương lai. Tôi đã có sự rung động thông cảm với chị điều đó.

Tôi đã xúc động lớn khi những người HO được qua định cư tại thành phố Baton Rouge, vợ chồng và các con chúng tôi thường đi thăm và động viên họ, chúng tôi hết lòng giúp đỡ, dù họ là người xa lạ chưa từng quen biết, chỉ vì lúc đó chúng tôi đã sống với tâm trạng của mình trong những ngày đầu đặt chân lên đất Mỹ, với tất cả sự hoang mang sợ hãi, mình không biết ngôn ngữ bản địa, mình không quen ai nơi xứ lạ quê người, chúng tôi đã đến thăm họ với tâm trạng của một người đồng hương để an ủi, khích lệ, giúp đỡ họ trong khả năng có thể của mình. Và ngày hôm nay, một lần nữa tôi lại xúc động khi gặp chị, rất mong được giúp đỡ chị trong khả năng có thể của mình, chị đã là vợ của anh tôi, dù cách biệt tuổi tác, dù có thể khác biệt chánh kiến, nhưng, chị vẫn là một người cần sự giúp đỡ.

Không ai biết ngày mai mình ra sao, ngay giờ phút này, chỉ một phút sau, một giờ sau, một ngày sau, không ai biết chuyện gì có thể xảy ra. Thì làm sao mình có thể nói được chuyện sẽ xảy ra 1 năm sau, 2 năm sau, 3 năm sau. 

Nếu một mai người có phụ ta, thì cũng chỉ nghĩ đó là cái nghiệp nó đi như vậy, và mình sẵn sàng chấp nhận không oán trách đổ thừa lỗi cho ai. 

Và tôi nghĩ những gì mà tôi đã giúp đỡ tất cả những người tôi gặp trên đường tôi đi cũng là dịp để chúng tôi tạo phước báu cho các con các cháu, đâu ai biết được mai sau mình ra sao, nay được mai mất, nếu các con các cháu gặp việc không may mắn thì những phước sự mà chúng tôi tạo ra đây sẽ giúp chúng vượt qua tất cả.

Cuối cùng, tôi mong rằng câu chuyện tôi viết ra đây để đánh động những tâm hồn còn đang ngủ yên trong sự phước báu của mình hãy bỏ qua những thành kiến và hãy nghĩ rằng nếu người sẽ phụ ta thì đó là cái nghiệp mình phải mang, mà hãy tạo thêm phước báu tích lũy cho mình cho con mình trong đời này và những đời sau.

Minh Hạnh


Saturday, April 17, 2021

Chuyện Cây Xoài

                                                              Chuyện Cây Xoài

Minh Hạnh ngày 9 tháng 8 năm 2007

Ngày xưa khi Đức Bồ Tát là một vị vua

Một hôm Ngài đi ra khỏi bờ thành, trên đường Ngài nhìn thấy trên cây xoài có rất nhiều trái, gần đến độ chín. Một cây xoài tốt như vậy, tươi như vậy, ngon lành như vậy, nhưng Ngài chỉ nhìn rồi tiếp tục đi. Chiều hôm đó Ngài trở về Hoàng cung, khi đi ngang cây xoài, lúc bấy giờ Ngài nhìn thấy cây xoài đó xơ xác hết, không còn được nguyên trạng như lúc sáng. Lúc bấy giờ Ngài hiểu rằng có một nhóm người đi ngang đây nhìn thấy cây xoài và bởi vì cây xoài có trái ngon nên họ đã bẻ và phá hại cây xoài. Ý nghĩ khởi lên đầu óc của Ngài, Ngài nói rằng, “Ở đâu có danh và ở đó có lợi thì ở đó có lòng tham, ở đâu có mật ở đó có ruồi, ở đâu có lòng tham thì ở đó có phiền não, và người nào có những thứ đó giống như cây xoài có trái vậy, sẽ gặp muôn vàn bất hạnh”. Ngài trở về và quyết định trở thành đạo sĩ.

 Minh Hạnh xin viết lên câu chuyện của chính mình làm trang web, được ví như cây xoài là hình ảnh cho muôn vàn bất hạnh của những ai có những thứ giống như cây xoài xanh tươi tốt đẹp, có nhiều trái chín ngon và thơm.  

~O~

Ngày xưa ở một thôn xóm có một ông Bá Hộ rất giàu có, tiếng tăm lẫy lừng khắp nơi vì sự giàu có và tài trí hơn người của ông ta. Có rất nhiều người nghe tiếng rất muốn đến gặp để được làm thân. Vì ai cũng mong được cặp mắt của ông Bá Hộ để ý nên đã nảy sanh ra sự tranh dành ảnh hưởng, đố kỵ lẫn nhau, gây hại lẫn nhau giữa những người thân cận, giữa những tá điền của ông ta.

Một hôm ông Bá Hộ được vua ban thưởng cho một hột xoài vĩ đại của một cây xoài thần là giống của một cây xoài rất sai trái ngọt và thơm. Ông băng khoăn cầm hột xoài trên tay và suy nghĩ không biết ai trong đám tá điền của mình có đủ thông minh tài trí để trồng và nuôi dưỡng hột xoài này cho nó trở nên một cây xoài có nhiều trái ngon ngọt. Người mình thì đông và họ lại không đủ ý thức để hành xử. Rồi ông nghĩ ra một cách, ông cho gọi tất cả những tá điền thân cận đến gặp ông nơi đại sảnh, khi mọi người tụ tập đầy đủ ông dơ hột xoài lên cao và nói:

"Đây là hột giống xoài thần tiên mà ta được Đức Vua ban thưởng, nó thuộc giống xoài rất tốt, nó sẽ cho quả thơm ngọt và rất sai trái. Bây giờ ta chia hột xoài này thành sáu phần, và sáu người trong các ngươi có phận sự ươm nó và khi nó ra cây rồi thì phải chăm bón cho nó trở thành một cây có lợi ích cho mọi người."

Tất cả những tá điền có mặt đều rất hồi hộp vì không biết ai sẽ là người được ông Bá Hộ để mắt tới mà giao một phần của hột giống cây xoài. Rồi ông Bá Hộ lần lượt gọi tên sáu người tá điền mà ông tin tưởng sẽ đem lại sự sung mãn cho vườn xoài của ông. Những người được gọi tên rất là mừng rỡ và hí hửng cầm phần hột xoài về vườn của mình để xăm xoi và nghĩ cách làm như thế nào để mà trồng một phần của hột xoài này cho nó trở thành một cây xoài tươi tốt có trái ngon ngọt nhất để được ông Bá Hộ để ý đến mình, thế là có thể mình đánh bại được bọn kia.

Thế rồi thời gian một năm trôi qua, năm trong số sáu người tá điền đã thất vọng vì hột này tuy đã cắt nhỏ thành sáu phần, nhưng sao nó cứng và khô cằn, nhìn vào sao giống như một cái họa đồ chằng chịt không biết đường nào mà mò, rồi lần lượt năm người tá điền đó buông xuôi không làm gì hết. Trong số sáu người đó thì có một người tá điền chất phát thật thà và có tánh khờ khạo rất tin người, ai nói gì cũng tin hết. Khi được giao cho một phần hột xoài, anh ta cầm về và không suy nghĩ gì hết, chỉ biết để nó xuống mảnh vườn tâm của mình và mỗi ngày anh chịu khó bón chút phân, tưới chút nước, rồi ngày qua ngày anh đã làm xong phận sự của mình là một phần hột xoài mà mình được giao phó nó đã nảy sanh thành một cây xoài bé nhỏ. Anh mang đến trình ông Bá Hộ. Ông Bá Hộ rất vui mừng vì thấy có một người trong đám tá điền của mình chịu khó làm việc, và ông thất vọng vì năm người kia trải qua một năm trời mà những phần hột xoài của họ vẫn khô cằn không nảy sanh mầm, do đó ông gom hết những phần hột xoài kia thành một hột xoài nguyên vẹn và giao cho anh tá điền này với ý mong muốn anh ta hết lòng chăm nom vườn xoài qúi báu này.

Khi được giao cho nguyên vẹn một hột xoài to lớn, anh tá điền cầm trong tay mà lòng rất lo lắng. Anh lo lắng là vì với thân thế cơ đơn ít ỏi của anh, thì làm sao chăm nom được một hột xoài to thế này. Rồi anh lại lo lắng là trong trang trại của ông Bá Hộ có rất nhiều tá điền với tâm địa hẹp hòi, một khi thấy anh thành công thì họ có để anh yên không hay là giống như những lần trước họ đã chà đạp, cấu xé anh chỉ vì anh đã tận tâm chăm sóc vườn rau của ông Bá Hộ tốt tươi, để rồi vì phiền não mà ông Bá Hộ đã dẹp khu vườn đó đi.

Thấy anh cầm hột xoài mà nét mặt đăm chiêu, ông Bá Hộ hỏi.

Anh nghĩ gì khi nhìn hột xoài mà nét mặt đăm chiêu thế. Tôi nghĩ anh sẽ thành công trong công việc này. Hãy đem nó về mảnh vườn tâm của anh mà trồng trọt vun xén.

Anh tá điền liền thưa rằng:

"Thưa ông, tôi sẽ cố gắng hết sức mình để ươm và trồng trọt hột xoài này, tôi không để ông thất vọng, vì một khi tôi làm thì tôi sẽ làm với hết tấm lòng mình và với ý trí rất mạnh tôi sẽ làm nó trở lên tươi tốt sai trái. Nhưng có một điều tôi xin ông chấp nhận lời thỉnh cầu của tôi thì tôi mới dám nhận lãnh trách nhiệm này."

Ông Bá Hộ ngạc nhiên về lời nói của anh tá điền"

"Ồ! điều gì nữa, anh cứ nói đi."

Anh tá điền thưa rằng: "Thưa ông, qua kinh nghiệm lần trước khi tôi được ông giao phó trông nom vườn rau, khi nó được tươi tốt có lợi tức nhiều thì nó bị những người tá điền khác trong trang trại của ông dòm ngó, ganh ghét và phá phách nó tả tơi. Ông vì phiền não mà đã dẹp bỏ cái vườn rau đó rồi. Bây giờ nếu tôi nhận lời chăm sóc cái hột xoài này, thì một khi nó lên tươi tốt nó có bị ảnh hưởng giống như vườn rau không?"

Ông Bá Hộ trả lời"

"Không đâu, anh yên tâm đem nó về trồng đi, và anh có toàn quyền kiếm người phụ anh làm ."

Thế là anh tá điền cầm hột xoài về, tuy nghe ông Bá Hộ nói vậy nhưng anh vẫn có một cảm giác bất an là một khi anh bỏ hết tâm trí ra trồng trọt vun bón thì hột xoài này chắc chắn tươi tốt và sai trái. Anh ngày đêm lo lắng. Người em thấy anh mình lo lắng ngày đêm nên khuyên rằng:

"Anh Hai đừng lo nữa, hột xoài tuy to lớn rất khó trồng trọt chăm sóc, nhưng mình với tâm thành mỗi ngày làm một chút thì có công mài sắc có ngày nên kim. Bây giờ em sẽ giúp anh, hai anh em mình cùng nhau ra công trồng và chăm sóc, em tin rằng một ngày nào đó mình sẽ có một cây xoài thật sai trái và thơm ngon."

Nghe lời khuyến khích của người em, anh tá điền vui hơn một chút và thấy có hy vọng hơn một chút. Nhưng rồi không biết bắt đầu như thế nào đây. Hội xoài to lớn vĩ đại như thế này thì mình bắt đầu trồng như thế nào. Tuy lo lắng nhưng anh cũng bắt đầu tìm hiểu phải làm cái gì trước. Trước hết anh phải vẽ sơ đồ ở góc vườn tâm của mình và ươm hột xoài to lớn ở đó, mỗi ngày anh và người em lần mò tìm hiểu kỹ thuật trồng trọc, rồi cho phân bón, rồi tưới tẩm, bắt sâu. Dần dần hột xoài nảy mầm và trổ cây và 8 tháng sau thì cây xoài thật sự là trưởng thành với thân cây to lớn (vì là xoài thần mà) và cành lá xum xoe mang đầy trái xoài no tròn bóng mướp và thơm lừng cả thôn xóm.

Mùi thơm của các trái xoài bay toả đến trang trại của ông Bá Hộ. Ông Bá Hộ rất mừng và kêu người đến hái những trái xoài thơm ngon đó về phát cho dân trong làng. Người dân được nếm thử thấy mùi vị rất thơm ngon nên tán thán công đức của anh em anh tá điền. Nhưng những người tá điền khác đem tâm ganh ghét đố kỵ và không muốn những trái xoài do từ cây mà anh tá điền trồng trong mảnh đất tâm của anh ta đem về trang trại nên đã lên tiếng phản đối và đình công. Ông Bá Hộ một lần nữa lại lâm vào tình trạng giống như mảnh vườn rau trước kia. Ông bèn nghĩ đến làm sao mang cây xoài đó về trang trại mình để cho những người tá điền trong trang trại trông nom. Ông cho gọi anh tá điền kia đến và nói ra ý định đó. Anh tá điền nghe xong thì muốn chết đứng. Trước khi nhận lời trồng hột xoài này anh đã giao hẹn với ông Bá Hộ rồi, nhưng vì lý do gì đó mà nay ông Bá Hộ đổi ý một lần nữa lại muốn cướp công của anh em anh. Tâm anh đau như có ai trộn muối ớt vào vậy, nước mắt trào ra, anh nghẹn ngào phản đối. Vì bây giờ đây cây xoài này chính là một phần đời sống của anh và người em, mỗi ngày anh ra vào nhìn ngắm, vun bón và khi nhìn thấy những trái xoài bóng mướp thơm ngọt là thành quả do công khó của anh em anh tạo nên, bây giờ có người muốn bứng nó ra khỏi vườn tâm của mình, thử hỏi làm sao anh không đau xót cho được. Vả lại chắc gì bọn tá điền bên đó có thể chăm sóc cây xoài thần này tốt bằng anh, vì là giống thần tiên nên rất khó trồng, "Nếu ai đem tâm nhỏ mọn mà tưới tẩm cho nó, nó cũng héo sào, nếu ai đem tâm đố kỵ tưới tẩm cho nó thì nó sẽ xác sơ." Bởi vì bọn họ một đám ngu không biết cùng nhau góp sức trông nom, mà họ chỉ là muốn được tiếng thơm của người khác đắp lên mình, rồi họ sẽ tự họ tranh dành cấu xé, dành giựt công để được ông Bá Hộ để ý tới chứ họ đâu có nghĩ tới lợi ích cho người dân trong làng đến từ cây xoài có trái ngon này. Nghĩ tới một ngày nào cây xoài sẽ bị xác sơ, rồi nghĩ tới thân phận mình, anh tá điền tủi thân nước mắt dàn dụa, mà tiếng khóc thì nghẹn ngào uất ức nó trực trào ra anh lại cố gắng nuốt nghẹn xuống, cứ thế mà anh mỗi ngày thân một tàn tạ, cơn bịnh phát sanh vì uất ức.

Lời Đức Phật dạy cứ văng vẳng trong tâm anh:

“Ở đâu có danh và ở đó có lợi thì ở đó có lòng tham, ở đâu có mật ở đó có ruồi, ở đâu có lòng tham thì ở đó có phiền não, và người nào có những thứ đó giống như cây xoài có trái vậy, sẽ gặp muôn vàn bất hạnh”.

hic hic hic hic hic (tiếng khóc của anh tá điền nghẹn ngào như vậy đó qúi vị)./.

Mẹ ơi, Xin Đừng Uống Dược Thảo Nữa

                                                 Mẹ ơi, Xin Đừng Uống Dược Thảo Nữa

Mom. No more herbs please!!!
Baton Rouge, ngày 19-9-2015 viết bởi Minh Hạnh, Một câu chuyện có thật. 

Dưới đây là câu chuyện vừa mới xảy ra với tôi. Do vậy với dụng ý giúp đở thông tin cho những ai đang dùng y học song song với dược thảo để tự chữa bịnh cho mình nên đọc qua.

Là một con người cũng như các chúng sanh khác Đức Phật dạy điều rất căn bản là ai sinh ra cũng phải chịu cảnh sanh, già, bịnh và kết thúc bằng cái chết.

Tự bản thân tôi cũng học được điều đó. Nhưng, trong tôi vẫn muốn mình được trẻ mãi không già, không bịnh và không chết. 

Sống trên đất Mỹ một thời gian khá dài là một xứ sở được bảo đảm về y tế rất hoàn hảo. Chúng tôi có đóng bảo hiểm sức khỏe hàng tháng nên mỗi khi bịnh đi bác sĩ và mua thuốc đều được hãng bảo hiểm trả hết những chi phi đó gần như là 95%. Chúng tôi hơi bịnh là đi bác sĩ, rồi toa thuốc bác sĩ viết cho đều đem ra tiệm mua không chừa cái nào. Nhưng mà rồi vì muốn mình được trẻ mãi, không già, không bịnh và không chết. Chẳng hạn, tôi bị các bịnh như cao máu, máu mỡ, máu đường v.v....  Tôi đã tìm đọc trên mạng những dược thảo và mua về tự mình nấu uống song song với thuốc tây. 

Chẵng những vậy, tôi giống như một người đi tìm thuốc trường sanh bất tử về cho mình. Sau khi đọc trên mạng biết được cây nha đam (aloe vera) uống sẽ hết bịnh tiểu đường, tôi đi tìm cây giống đem về trồng và gây giống được trên 20 cây. Rồi đọc trên mạng thấy nói uống lá cây Giảo Cổ Lam (jiaogulan) là một loại dược thảo uống sẽ được sức khỏe tốt như là một loại dược thảo qúi mà có bộ lạc bên Trung Hoa người ta uống thay trà mỗi ngày  được sống rất thọ. Thế là tôi tìm giống và mua về trồng rồi cũng cấy ra thành nhiều cây bây giờ trong vườn nhà tôi rất nhiều loại cây này bò lan trên nhiều khoảnh đất và tôi cũng lấy lá nấu để uống mỗi ngày thay trà. Rồi cũng trên mạng nói lá dứa nấu nước uống thay trà mỗi ngày sẽ hạ áp huyết máu, tôi cũng mua cây và đem về trồng bây giờ cũng lên đến gần 20 chậu lá dứa. Sau cùng, cũng trên mạng tôi đọc bài nói về uống năm loại rau quả gồm: táo xanh, dưa chuộc, ổ qua, ớt xanh, và cần bỏ vào máy ép trái cây lấy nước uống sẽ hạ tiểu đường.

Mỗi thứ dược thảo kể trên đã được tôi nấu và uống thử một thứ khoảng 2 năm. Thấy thứ nào cũng tốt và ngon miệng và có ảnh hưởng giảm tiểu đường. Cuối cùng tôi chọn cách 5 loại rau quả và tôi uống được thứ dược thảo này được gần một năm thì thấy da dẻ hồng hào và thân thể khỏe mạnh. Rồi bỗng nhiên một hôm tôi thèm một ly trà Giảo Cổ Lam nấu với lá dứa, thế là tôi nấu một nồi nhỏ cho hai vọ chồng uống thêm. 

Đó là, một ngày Chủ Nhật  cuối tuần đẹp vào trung tuần  tháng 9. Trời Baton Rouge bắt đầu bước sang thu khí hậu mát lạnh không còn cái nóng thiêu gay gắt của những tháng hè. Chúng tôi có cái hẹn đi thăm người  con trai và 3 đứa cháu nội, vừa để thăm cháu và con và cũng là để khám bịnh chích ngừa căn bịnh cúm (Flu) luôn.

Tôi thức dạy lúc 6:30 sáng, vừa bước xuống đất thì một cái gì đó từ trong lồng ngực bộc  lên miệng, giống như  trong lồng ngực có đờm và nó làm tôi ho, tôi chạy vội vào phòng tắm nhổ xuống bồn cầu thì thấy đó là máu, rất nhiều máu làm đỏ ối cả  bồn cầu. Tôi hoảng sợ, gọi lớn ông xã chạy vào, khi nhìn thấy ông cũng hoảng hốt vì không biết chuyện gì đã và đang xảy ra cho tôi. Ông xã vội gọi người con trai và nói về tình trạng của tôi thì người con nói hãy đến ngay phòng mạch của con.

Khi tôi đến phòng mạch của con sau hơn một tiếng lái xe, trên đường đi tôi không bị ho ra máu. Nhưng đúng lúc khám bệnh thì lại ho và máu lại trào ra rất nhiều. Tôi quá sợ hãi, con tôi nói:

- "Không sao đâu mẹ, con nghĩ là một mạch máu nào đó trong mũi bị bể, nó giống như là mẹ bị chảy máu cam thôi".

Và con tôi bắt đầu hỏi bệnh của tôi

- "Mẹ có uống thuốc cao máu thường xuyên không?"

Tôi đáp: "có, mỗi ngày mẹ đều uống thuốc cao máu rất đúng giờ".

Con tôi hỏi tiếp: "Tối qua mẹ có ăn thì mặn không?"

Tôi đáp: "Buổi tối thường mẹ không ăn cơm với thức ăn bình thường, mẹ chỉ ăn một chén nhỏ Oatmeal không đường không muối".

Mẹ có uống Aspirin mỗi  ngày không? - Con tôi giải thích thêm là nếu uống Aspirin mỗi ngày sẽ làm mỏng mạch máu và dễ gây ra trường hợp đứt mạch máu

Tôi đáp: "Không

- "Mẹ có uống loại herbs nào không?"

Tôi đáp: "Có"

- "Vậy tên loại herb là gì?"

Tôi đáp: "Thường ngày mẹ uống nước ép của 5 loại rau quả, hôm qua vì thèm một ly nước Giảo Cổ Lam nấu với lá dứa nên mẹ nấu thêm một nồi nhỏ và đã uống 2 ly, buổi sáng một ly và buổi tối trước khi đi ngủ một ly". 

Con tôi nói: "Y tá đã đo áp xuất của mẹ thì thấy là 185 như vậy quá cao, và mẹ không có dấu hiệu bị sốt. Như vậy là mẹ bị bể mạch máu ở đâu đó trong mũi hoặc trong phổi". 

Và con tôi nói tiếp: 

- "Mẹ hãy dừng ngay các loại dược thảo vì mẹ đã có chữa các căn bịnh của mẹ bằng Tây y rồi, nếu mẹ uống thêm các dược thảo nó có những phản ứng mà mình không ngờ được. Các bác sĩ người ta cũng nghiên cứu thuốc chữa bệnh từ các loại dược thảo và bào chế thành các loại thuốc chữa bệnh với cân lượng rõ ràng. Mẹ uống dược thảo thêm tức là mẹ tăng thêm liều độ với lại mẹ đâu biết phản ứng của nó sanh ra bệnh gì nữa. Mẹ phải ngừng ngay không uống dược thảo nha mẹ.".

Sau đó con tôi đưa giấy giới thiệu đến bác sĩ về phổi và bác sĩ tai mũi họng và dặn:

- "Vì hôm nay là Chủ Nhật nên các bác sĩ về phổi và về tai mũi họng không làm việc, sáng sớm ngày mai bố kiếm bác sĩ về phổi và tai mũi họng và đưa mẹ đi. Nhưng khi về nhà nếu thấy máu vẫn còn tiếp tục chảy nhiều thì bố phải đưa mẹ đi bệnh viện vào phòng cấp cứu ngay nha".

Sau đó chúng tôi đi về nhà và tôi liên tục ho ra máu nhiều lần nữa. Đến 9:30 tối lại ho ra máu rất nhiều nên chồng tôi quyết định chở tôi đến phòng cấp cứu của bịnh viện trong thành phố. 

Tại phòng cấp cứu của bịnh viện sau 3 tiếng chờ đợi, người y tá đưa tôi đến phòng chụp hình quan tuyến để làm Cat Scan. Sau đó tôi được đưa vào phòng khám để gặp bác sĩ. Tại đây chúng tôi gặp một chuyện hiểu lầm tai hại. Các bác sĩ và y tá tại phòng cấp cứu chứng kiến cảnh tôi ho ra máu thì họ nghĩ là tôi bị Ebola hoặc một bịnh có vi khuẩn lạ tai hại nào đó.

Vị bác sĩ trực hỏi tôi:

 - "Bà có đi du lịch nơi nào ngoài nước Mỹ gần đây không?"

Tôi trả lời: "Dạ không, gần 5 năm rồi tôi không đi đâu ra ngoài nước Mỹ"

Ông bác sĩ hỏi tiếp:

- "Thế bà có tiếp xúc với người nào bị bịnh không?"

Tôi ngơ ngẩn một chút rồi trả lời:

- "Tôi chỉ luẩn quẩn trong nhà và chồng tôi là người duy nhất tôi tiếp xúc. Ah! mà có lúc tôi ra làm vườn thì bị muỗi chích, tôi chắc có lẽ bịnh từ con muỗi chăng?"

Ông bác sĩ phì cười: "Con muỗi truyền bịnh cho bà sao!!!

Rồi ông ta đi ra, một lúc thì người y tá vào lấy máu từ trong người nói đem đi thí nghiệm. Một lúc thì tôi thấy họ đóng cửa phòng tôi lại. 

Sau đó, ông bác sĩ trực kéo thêm vị bác sĩ trưởng của ca cấp cứu vào  tuyên bố là tôi bị bịnh xưng phổi và sẽ chích cho tôi thuốc trụ sinh xong thì cho tôi về nhà đợi sáng hôm sau đi đến phòng mạch của bác sĩ phổi.

Tôi ngạc nhiên và hơi lo ngại là máu vẫn đang tiếp tục chảy vậy sao về nhà được, tôi hỏi ông ta:

- "Tôi về nhà thì máu có ngừng chảy không?"

Ông ta đáp: "dĩ nhiên là sẽ ngừng chảy, nhưng phải từ từ vì thuốc trụ sinh nó ngấm từ từ diệt những con vi khuẩn hết thì máu ngừng chảy"

Ông xã tôi nói: "Bác sĩ hãy để vợ tôi ở lại bịnh viện, rồi đến sáng tôi sẽ kiếm bác sĩ phổi khám cho vợ tôi. Chứ bây giờ máu vẫn tiếp tục ho ra thì về nhà chúng tôi cũng không biết làm gì, chẳng thà ở lại bịnh viện chờ sáng là hơn."

Ông bác sĩ nói chờ ông ra hỏi bác sĩ của bịnh viện xem có cho tôi ở lại không.

Sau một lúc họp khẩn với các bác sĩ của bịnh viện thì họ đồng ý cho tôi ở lại. Nhưng, họ cách ly tôi trong phòng cách ly đặc biệt của bịnh viện, các bác sĩ và y tá khi vào phòng tôi họ đều mang khẩu trang và vào rất là vội để đi ra ngay giống như họ sợ bị lây bịnh từ tôi. Tuyệt nhiên không ai nói cho tôi biết là họ nghỉ tôi bị bịnh gì mà chỉ nói là tôi bị pneumonia là viêm phổi. Bệnh viêm phổi là bệnh thường gây ra bởi hiện tượng nhiễm trùng do virus hoặc vi khuẩn.

Họ tiếp tục lấy máu từ trong người tôi đem đi thí nghiệm, thậm chí họ kêu tôi khạc máu vào một hộp nhỏ để đem đi thí nghiệm. Và một chuyện rất là buồn cười và tủi thân, đó là y tá không dám đến gần tôi, họ thấy trên giường bệnh tôi ngồi có túi để tôi ói vào khi đó đã đầy rồi họ kêu chồng tôi vứt vào thùng rác, và trên tay tôi còn đeo số hiệu của phòng cấp cứu thay vì y tá lấy ra và thay cái khác vào thì bà ta sai tôi tự lấy ra, nói xong bà chạy ra khỏi phòng liền. Tôi và chồng tôi ngơ ngác không hiểu chuyện gì đang xảy ra trong người tôi mà chỉ biết là mình đang bị cách ly trong bệnh viện.

Trong lòng lo lắng quá là lo lắng. Tôi ngồi nhắm mắt và định tâm, cố gắng kềm cơn ho không cho phát ra, bởi vì nếu ho là máu lại ộc ra. Lúc đó tôi nhớ lời giảng của Thầy tôi: Một phương cách thực hành trong lúc khó khăn để tự mình tìm sự bình tỉnh an ổn tinh thần, đó là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm giới, niệm Chư Thiên. Tôi bắt đầu niệm thầm:

"Buddham saranam gacchami, Dhammam saranam gacchami, Sangham saranam gacchami. Con nương tựa với Phật, Con nương tựa với Pháp,Con nương tựa với Tăng". 

Và tôi cầu nguyện Chư Thiên: "Với tất cả phước báu con đã làm như làm phước, cúng dường, bố thí, trai tăng trong suốt thời gian qua con xin hồi hướng đến tất cả Chư Thiên ở trên trời, Chư Thiên chung quanh nhà con, Chư Thiên ở chung quanh bệnh viện này, và Chư Thiên ở ngay trong bệnh viện này. Cầu xin qúi Ngài tùy hỉ với tất cả phước báu đó. Nguyện xin Chư Thiên phù hộ cho con tai qua nạn khỏi và bệnh tật được tiêu trừ"

Đến 10 giờ y tá mang thức ăn sáng cho tôi. Suốt ngày qua cho đến lúc này tôi đã ho ra máu liên tiếp, mất máu rất nhiều, rồi phần đói nên tôi đã ăn thức ăn bịnh viện rất ngon, sau khi ăn xong tôi lại ngồi nhắm mắt và cầu nguyện tiếp. Khoảng 11 giờ bác sĩ về phổi đến phòng tôi cùng với một bà y tá, đều mang khẩu trang với vẻ mặt rất khẩn trương như có cái gì đó đang xảy ra. Sau câu chào hỏi thì ông cho biết là đã coi hồ sơ bịnh lý của tôi và biết là tôi đã ho ra máu. Thì ngay lúc đó tự nhiên bụng tôi đau quặn rất là đau, giống như tôi phải đi ngay vào phòng vệ sinh chứ không sẽ không kịp, cho nên tôi ra dấu cho bà y tá giúp đẩy bình IV đang tiếp nước biển vào người tôi theo tôi. Vừa vào tới phòng vệ sinh  chưa kịp đóng cửa phòng thì từ trong người tôi xổ ra rất nhiều máu đen từ đường đại tiện trong khi đó máu trong miệng cũng ọc ra từng ọc, rất là dễ sợ. Bà y tá cuống quýt giúp tôi lau máu từ miệng và đỡ tôi ra khỏi phòng vệ sinh. Vị bác sĩ nhìn tôi trong trạng thái máu vẫn ào ạt chảy ra từ miệng, ngay lúc đó ông dơ tay lên gỡ cái khẩu trang ra khỏi miệng ông và nói một cách rất quả quyết:

- "Tôi khẳng định rằng bà không mắc bịnh TB (TB là tên viết tắc của căn bệnh Tuberculosis tức là lao phổi), mà là bà bị bể một đường máu nào đó trong phổi hoặc cuống phổi. Tôi sẽ báo cho nhà thương biết là họ không cần cách ly bà nữa". 

Ngay lúc đó bà y tá cũng gỡ cái khẩu trang của bà ra.

Lúc đó tôi mới biết là các bác sĩ của bệnh viện đã định bịnh của tôi là lao phổi. Vậy mà họ không cho tôi biết.

Ông bác sĩ nói tiếp: "Tình trạng của bà đang rất là nguy hiểm, bà đã mất rất nhiều máu trong gần 30 tiếng đồng hồ. Tôi đi báo cho các bác sĩ của bệnh viện. Chúng tôi phải làm việc ngay chứ không thể kéo dài nữa".

Ông đi rất nhanh ra khỏi phòng, khoảng 30 phút sau ông trở lại và nói:

- "Tôi đã nói với các bác sĩ nhà thương là bà cần làm gấp cuộc phẩu thuật tên là Bronchoscopy. Nhưng bà phải nhịn đói 8 tiếng không được ăn gì. Tôi được cho biết là bà đã ăn sáng rồi, như vậy cuộc phẩu thuật sẽ trở nên khó khăn vì khi gây tê mê bà sẽ bị ói hết thức ăn từ trong bao tử ra. Nhưng vì tình trạng khẩn cấp nguy hại tới tính mạng cho nên chúng tôi chấp nhận việc bà sẽ bị ói vì nó chỉ làm dơ cái máy móc của nhà thương thôi mà cứu được tánh mạng của bà nên nhà thương đã chấp nhận tiến hành cuộc phẩu thuật này".


Và ông giải thích Bronchoscopy là gì, như sau: "Bronchoscopy là một dụng cụ y học tạm gọi là dụng cụ soi phế quản đi vào lồng phổi của bệnh nhân qua đường khí quản. Nó là một ống nhỏ hơn 1/2 inch và dài khoảng 2 feet. Được đưa vào qua miệng hoặc mũi của bệnh nhân và luồng xuống phổi. Qua đó chúng tôi có thể nhìn thấy vết đứt của đường máu ở nơi nào và từ đó chúng tôi sẽ chận lại không cho máu chảy ra tiếp".

Và ông nói tiếp:

- Bây giờ bà nằm nghỉ chờ tôi đi chuẩn bị máy, cuộc phẩu thuật sẽ bắt đầu lúc 2 giờ.

Lúc bấy giờ là 12:00 trưa

Tôi có phần yên tâm và bớt đi sự lo lắng. Tuy nhiên, tôi vẫn nhắm mắt định tâm và tiếp tục cầu nguyện: 

-" Buddham saranam gacchami, Dhammam saranam gacchami, Sangham saranam gacchami - Con nương tựa với Phật, Con nương tựa với Pháp, Con nương tựa với Tăng. 

Và  cầu nguyện Chư Thiên: "Với tất cả phước báu con đã làm như làm phước, cúng dường, bố thí, trai tăng trong suốt thời gian qua con xin hồi hướng đến tất cả Chư Thiên ở trên trời, Chư Thiên chung quanh nhà con, Chư Thiên ở chung quanh bệnh viện này, và Chư Thiên ở ngay trong bệnh viện này. Cầu xin qúi Ngài tùy hỉ với tất cả phước báu đó. Nguyện xin Chư Thiên phù hộ cho con tai qua nạn khỏi và bệnh tật được tiêu trừ"

Đến 1:45 thì y tá đẩy tôi xuống phòng phẩu thuật để chuẩn bị cho việc phẩu thuật. Họ để tôi nằm trên bàn phẩu thuật. Bên tay phải của tôi là một màn hình lớn, nó giống như một cái màn ảnh của computer, phía đầu tôi là cái cần có gắn bộ phận của máy Bronchoscopy. Đầu tiên họ bơm vào 2 bên mũi và cổ họng tôi mỗi nơi 3 mũi thuốc tê, là loại thuốc nước làm tê cứng hai bên mũi và cổ họng tôi, tôi bắt đầu cảm thấy như muốn ngủ và sau đó thì tôi không còn biết gì nữa.

Tôi tỉnh giậy khi nghe tiếng gọi của vị bác sĩ:

- Mrs Nguyễn

Vị bác sĩ thấy tôi mở mắt nên nói tiếp: 

- Chúng tôi dùng máy bronchoscopy đưa vào lồng ngực của bà và đã thấy nơi máu phun ra nhưng vì máu phun ra nhiều quá và nó lại nằm sâu bên trong lồng phổi nên không thể hàn vết nứt được. Do vậy, tôi đã tạm thời chặn nơi đó lại. Bây giờ chúng tôi sẽ dùng thêm một phương pháp phẩu thuật khác để tìm vết nứt và hàn nó lại, phương pháp này gọi là Embolization hay còn gọi là Pulmonary angiography. 

Pulmonary angiography là một dụng cụ y học khác dùng để tìm kiếm các động mạnh trong phổi khi có dấu hiệu ra máu trong phổi. Dụng cụ này với x-rays và một loại thuốc nhuộm màu đặc biệt để có thể nhìn thấy bên trong động mạnh. 

Trên cơ thể của bệnh nhân, thường xuyên nhất là cánh tay hoặc ở háng. Trường hợp của tôi, bác sĩ dùng ống thông từ nơi háng cắt nhỏ trong một tĩnh mạch và chèn ống thông vào đó rồi đi xuyên qua các tĩnh mạch  và cẩn thận di chuyển lên và thông qua các buồng tim bên phải và vào động mạch phổi, dẫn đến phổi. Bác sĩ  nhìn thấy hình ảnh qua quang tuyến x-ray trực tiếp của buồng phổi trên một màn hình computer , và sử dụng chúng như một bản hướng dẫn.

Một khi ống thông đi qua, thuốc nhuộm được tiêm vào ống thông. Hình ảnh X-ray được thực hiện rõ ràng thuốc nhuộm di chuyển qua các động mạch của phổi. Các thuốc nhuộm giúp phát hiện nơi có dòng  máu bị đứt và ở đó bác sĩ sẽ hàn vết nứt đó lại, máu sẽ được ngăn lại không cho chảy ra nữa.
Cuộc phẩu thuật kéo dài 45 phút. Tôi được làm cho ngủ trong suốt thời gian phẩu thuật cho đến khi bác sĩ gọi tôi và cho tôi biết cuộc phẩu thuật xong với kết quả khả quan, tôi sẽ không còn bị ho ra máu nữa.

Vị bác sĩ Pulmonary angiography cho tôi biết vết mạch máu bị đứt nằm phía phổi bên trái của tôi, ngay dưới vú bên trái nằm ngay nơi cách nay 10 năm tôi bị breast cancer và là nơi tôi đã phải chịu hơn 30 lần radiation để diệt các mầm mống cancer nếu còn sót lại. Do vậy các mạch máu nơi đó bị yếu hơn các nơi khác trong thân thể của tôi. Và do tôi bị cao áp huyết mặc dù tôi uống thuốc tây về áp huyết  thường xuyên nhưng vì tôi dùng các loại herbs mà tôi không biết rõ phản ứng phụ của nó ra sao cho nên đã làm tăng áp huyết, một khi áp huyết bị tăng thì máu phải kiếm đường bung ra thì dĩ nhiên nơi nào mạch máu yếu nhất thì nơi đó bị bung ra. Đó là lý do bác sĩ cho tôi biết tôi bị đứt mạch máu ở phổi 

Tôi thật là xúc động và chân thành cảm ơn vị bác sĩ phổi bronchoscopy và bác sĩ phẩu thuật Pulmonary angiography cùng với các y tá trong hai ca phẩu thuật đã tận tình giúp và cứu mạng tôi thoát khỏi cơn nguy hiểm này.

Cũng như sự  lo lắng, chăm sóc tôi trong cơn hoạn nạn với đầy sự thương yêu của ông xã và 4 người con trai của tôi đã không ngại mệt nhọc mà ở cạnh tôi suốt thời gian tôi ở bệnh viện  quên ăn quên ngủ chỉ một lòng lo lắng cho tôi. Tôi vô cùng cảm kích họ. 

Cũng như sự hổ trợ của các vị Chư Thiên chung quanh tôi, chung quanh nhà tôi, ở trên trời, dưới đất, chung quanh bệnh viện và trong bệnh viện đã hổ trợ tôi thoát khỏi cơn nguy hiểm này. Tôi vô cùng nhớ ơn họ. Nguyện xin hồi hướng tất cả các phước báu mà tôi đã thực hành từ bấy lâu nay để các vị Chư Thiên tùy hỉ thọ dụng.
Câu niệm Phật luôn luôn trong đầu tôi mãi mãi và mãi mãi: 

- Buddham saranam gacchami, Dhammam saranam gacchami, Sangham saranam gacchami - Con nương tựa với Phật, Con nương tựa với Pháp, Con nương tựa với Tăng.

Cuối cùng tôi luôn nhớ lời các con tôi nói khi đón tôi về nhà:

Mom, no more herbs please!!!